Châu Khê Thần tích sự trạng (Phần 2)

25/12/2009 // No Comment // Views: 1 views // Categories: Văn hóa lịch sử.

Đó là 2 cái giếng đầu rồng là chính cục, hướng về phía trước, có 1 dãy núi nhỏ ôm lấy xung quanh, phía tây nam bao vây lấy ấp. Núi như các ngôi sao la liệt ở đường trước, bảng với bút ứng đối với nhau, voi, ngựa,cờ, trống triều lại, đột nổi lên phía trước, phía sau nước quanh róc rách, trầm ao, ruộng nương hiện rõ, dân ở tựa vào thân rồng, hòn núi vây quanh 2 mặt, phía nam ngựa hướng chiếu vào, phía bắc phượng hoàng múa cánh, địa thế xung quanh bằng phẳng, thật là một mảnh đất chân long tú khí, quả là 1 quý địa.

Ông đi bộ xung quanh tả hữu thấy 1 cái quán bên cạnh dân ở, hai phía hồi long tràn về điền trạch, đó chính là cái thế đai bảng hình rùa, ông bèn ngồi chơi ở quán đó, trông ra bốn mặt trang ấp, lúc bấy trời đã chiều tà, trời sắp tối. Ông nghĩ rằng: Nơi đây không có ai quen mà vào trọ, chợt thấy 1 ông thầy chùa đang đi tới quán, thấy ông ngồi ở đây mà trời đã tối liền hỏi rằng: “Trời tối thế này người nào ngồi ở quán, có việc gì?” Ông đáp rằng: “Ta vốn là nhà nho, nhàn du phong thủy, gặp trời tối không có nơi trọ nghỉ chân, vì thế tạm lưu ở quán này 1 đêm, mai mới đi được”, vị sư nghe vậy, liền mời ông về chùa nghỉ, ngôi chùa ở trang Chu Xá lúc đó gọi là chùa Liên Hoa, ông nói với vị hòa thượng: “Tôi từng xem địa thế, địa hình nơi đây đều là hoa sen, hoa phượng, phía sau cái quán ”hướng mão chuyển chân dần” mà ở càn tốn. “Tốn thủy đáo đường là long cách. Trước cái trầm sau con sông đều là quý cách chân long.

Đêm ấy, ông ngủ ở phật đường, làm bài thơ rằng:

Nhàn quan phong thủy nhất hồ thiên

Tứ diện sơn hà các bảo tuyền

Nhất phiến chân long giai quý cách

Công khanh hầu bá thế tương truyền

Dịch là:

Nhàn xem phong thủy một vùng trời

Bốn mặt sơn hà ôm ấp coi.

Một mảnh chân long là quý cách.

Công hầu khanh tướng nối đời đời.

Đêm hôm ấy , nhân dân ở trang Chu Xá hốt nhiên kinh sợ,chó ngoảnh lên trời cắn, phụ nữ, nhi đồng đều mang bệnh, không xót một người nào. Các họ ở trang Chu Xá gồm có: Họ Phạm, Nguyễn, Trần, Đỗ, Ngô, Dương, Vũ, Đào, Lê, Bùi, Đặng, Đoàn, một trang chia làm 2 khu vực.

Nhân dân thấy điều quái dị như thế, làm lễ tống tiễn thiên thời, nửa đêm cúng lễ xong, ai về nhà nấy, đến đầu canh năm, mọi người lại thấy mộng, thấy 1 ông quan mũ áo tề chỉnh cưỡi con ngựa hồng, đai vàng rạng rỡ, theo sau mấy trăm người tay cầm long đao thẳng tới trong làng họ triệu tập dân mà nói rằng: “Hỡi dân chúng nay có phúc thần đi qua xem địa hình, trú ngụ ở chùa, ta là chủ tể già nom trông coi khu này, thấy thần binh như thế phù tòng rất đông, nhiễu vào dân sự, bọn các ngươi nay muốn được yên, kíp sắm lễ vật tới chùa bái hạ. Mọi người xin làm thần tử, thần binh nghe mệnh lệnh đó thì điều thu hồi, không dám nhiễu loạn, dân chúng mới được yên.

Nhược bằng điềm nhiên vô lễ, sẽ bị trách lỗi. Việc là Hoàng Thiên đã định, đã có sắc mệnh, đã báo cho ta biết trước”. Nhân dân tỉnh ra, làm theo lời mộng, sáng hôm sau mồng 10 tháng giêng, hội đồng các họ đều nói rõ mộng tối trước, ai nấy đều lấy làm lo, liền ra chùa để xem hư thực. Đầu giờ dần ngày ấy, ông từ biệt thầy chùa ra đi, lại đến quán sở, ông đi đã lâu dân mới tới hỏi, hôm qua có người nào trọ với thầy không? Thầy chùa nói rằng: “ Có 1 người xem tướng đất, ở trong chùa với ta, nhân vì người ấy vào quán xem đất, trời tối ta mời về chùa nghỉ. Chưa sáng đã đi rồi, nhưng mà ông ấy còn đang xem đất, chắc chưa đi xa đâu”.

Dân chúng và thầy tăng đi bộ thẳng đến quán, thắy ông đang ngồi xem địa lý, dân chúng hỏi: Ông là người ở đâu lại đây? Mà sớm đã ngồi đó. Ông nói tôi vốn xem phong thủy tối qua nghỉ ở chùa, vì thế sáng đi, dân chúng thầm tưởng đúng như thần báo mộng và hỏi thêm rằng: ÔNg chuyên làm nghề phong thủy hay có nghề gì nữa! Ông cười đáp rằng: Tôi chủ yếu là gia truyền thi lễ, ngồi dạy sỹ tử, ngoài ra bách nghệ không việc gì là  tôi không biết.. Dân chúng bảo nhau rằng: Hay dân ta không có thầy dạy trẻ, dám xin rước người về nhà.

Ông nghe vậy lòng cũng muốn ngồi dạy học và cũng quý nơi đây có tú khí đại cục chân long, bèn về nhà phú ông họ Phạm tạm ở, đợi sau tu bổ trường sở. Ông ngồi dạy học được 1 tháng, dân làng cũng chưa yên ổn, còn nhiều người sinh bệnh, nên bảo nhau: Thần đã mộng trước thật là phúc cho dân ta, phải làm lễ, xin làm thần tử, thì bệnh mới chữa khỏi được. Mấy hôm đó biện lễ vật, đem đến nhà họ Phạm để tạ ơn và cáo rõ thần báo mộng. Nay xin làm thần thứ để được yên.

Ông nghe trong lòng thầm tưởng rằng: Việc do thiên định bèn bằng lòng. Từ đó dân chúng bệnh tật đều khỏi và xin ông xem đất để làm trường sở. Ông truyền lập 1 sở ở Long đầu chính cục, phía dưới dân ở, hai giếng tả hữu là 2 mắt rồng, đằng trước là sông bao quanh, phía ngoài là cờ, trống, dù, tán, voi, ngựa, đao, bút, tất cả đều ứng lập chiếu về hướng trước con thanh long, phía sau , nước vây quanh làng nơi dân ở, phía xa xa la liệt ngôi sao vàng, bút bảng đều ứng lập hướng ất tân kiêm mão dậu tả hữu sánh vai, sao vàng ứng trước, mạch nước vây quanh, rồng ngâm 2 mảnh, tả hữu oanh hồi. Trường sở hoàn thành mời ông đến khai trường giảng dạy. Lúc đó ông Phạm Ngũ Lão ở làng Phù Ủng, lập được công lớn, làm quan triều nhà Trần đến chức thái bảo, thuộc quyền tiết chế của Hưng Đạo Vương. Một hôm Ngũ Lão chơi quê, họp các sỹ tử lại để tập văn chương, ông cuộn 1 quyển văn để trong tay áo, ngày hôm sau đem nộp quyển ở trường.

Đêm ấy Phạm Ngũ Lão nằm mộng thấy 1 người con trai khăn áo chỉnh tề, càm 1 quyển văn từ ngoài vào đứng trước cửa trường. Ngũ Lão hỏi rằng: “Sinh viên ở đâu đến tập?” Ông thưa rằng: “Tôi vốn là la hán tông thiên thần ở nước Việt Nam” nói chưa hết, Ngũ Lão chợt tỉnh mới hay là mộng. Sáng mai giờ dần thấy ông đúng diện bộ trong mộng, không sai chút nào, liền mở quyển xem văn thật là quảng bác uyên thâm, kỳ dị vô định. Hỏi tên họ? Ông thưa rằng: “ Tôi là họ Phạm tên Sỹ, vốn người ở Ái Châu.

Cùng đồng họ nên Phạm Ngũ Lão rất yêu, rất trọng coi ông như anh em thủ túc chí thân, chí ái, sớm hôm không rời nhau. Khi Phạm Ngũ Lão vào triều cho vời ông vào yết kiến Hưng Đạo Vương, thấy diện mạo khôi kỳ, thử tài nghệ văn võ tinh thông, không gì là không thấu suốt. Trong triều lúc bấy giờ ít ai sánh kịp, bèn tiến lên Thái tôn hoàng đế bệ kiến, thử tài học ứng đói như nước chảy, không biến sắc. Trong Triều lúc bấy giờ có Trần Íach Tắc, Dã Tượng, Yết Kiêu đều là những người võ nghệ nổi danh, nhưng không bằng ông liền ban cho ông chức Tham Nghị, từ đó, ông ở Triều giúp việc 3-4 năm lại thăng lên chức tham tri bộ Lễ, sau thăng lên Đô đài Ngự Sử.. Lúc đó vua tôi hợp sức thiên hạ thăng bình.

Vua sai ông đi tuần thú các đạo, phủ, huyện, giúp già nuôi khó phủ dụ nhân tình, nhân dân đều cảm đúc. Một ngày ông về Ái Châu bái yết gia tiên, sửa xong nhà thờ, viếng thăm mồ mả, mở yến tiệc khao thưởng quân lính và họ hàng làng nước thân thuộc, trong khoảng 10 ngày giúp cho chị và họ hàng làng nước thân cận, mỗi nơi là 100 hốt bạc làm vốn, chung mua ruộng đất. Ông du binh 1 tháng đến Chu Xá, phủ Thượng Hồng đạo Hải Dương, (ngày ấy là ngày 12 tháng 8) dân chúng, gia thần đều đến bái hạ ông vào trường sở đóng quân, mở yến tiệc, mời các cụ phụ lão đến dự yến. Ông mừng nói với các cụ rằng: “Tôi cùng dân làng, nghĩa do trời định, cương thường muôn thưở, đạo không đỏi thay. Nay ơn được hiển danh ở triều Trần là nhờ Ngũ Lão danh thần tiến cử.