Phố Hàng Bạc – Một trong những di sản phố cổ ở Hà nội

25/12/2009 // No Comment // Views: 1 views // Categories: Văn hóa lịch sử.

Một góc phố Hàng Bạc Phố cổ Hà Nội nổi tiếng với những ngôi nhà chồng diêm, nhà hình ống, những mái ngói cong, lô xô mềm mại tạo ra nét duyên dáng riêng làm cho Hà Nội có nét đẹp riêng không hề giống với các thành phố khác trên thế giới. Phố Hàng Bạc là một trong những con phố cổ ở Hà Nội – một di sản của Hà Nội mà chúng ta cần gìn giữ

Theo nghiên cứu của các chuyên gia Sử học thì trong các sách chính sử đều không thấy chép niên đại cụ thể sự ra đời của phố Hàng Bạc, nhưng căn cứ theo nội dung của tấm bia đặt tại đình Dũng Hãn (42 Hàng Bạc) có thể xác định được phố Hàng Bạc ra đời vào thời Lê hoặc có thể sớm hơn một chút.

Vào thời Lê, phố Hàng Bạc thuộc về phường Đông Các, huyện Thọ Xương. thời Nguyễn, phố Hàng Bạc thuộc thôn Dũng Thọ, tổng Hữu Túc sau đổi thành tổng Đông Thọ, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức. Ngày nay phố Hàng Bạc dài 280m, đi từ phố Hàng Mắm đến ngã tư tiếp giáp với Hàng Đào (trước kia là phố chuyên nghề nhuộm chuội và bán tơ lụa), Hàng Ngang (nơi sinh sống và buôn bán của các Hoa kiều gốc Quảng Đông) và phố Hàng Bồ (nơi tập trung buôn bán các thứ bồ đan bằng tre, nứa), thuộc phường Hàng Bạc, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Dưới thời Pháp, phố có tên là Rue des Changeurs tức là Phố của những người đổi tiền.

Tại phố Hàng Bạc, ngoài những người dân gốc, vốn đã từng sinh sống từ trước còn có cư dân của ba làng khác di cư đến. Đó là dân của các làng Châu Khê (Hưng Yên), Định Công Thượng (Thanh Trì, Hà Nội) và làng Đồng Sâm nổi tiếng với nghề chạm bạc, người Định Công chuyên về đồ đậu, còn người Châu Khê lại làm nghề đúc bạc đổi tiền.

Để phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày cho vua quan, Nho sỹ và để xây dựng nhà cửa, cung điện, những thương nhân, thợ thủ công… từ các địa phương đến kinh thành ngày một nhiều. Phương thức di dân phổ biến là cả một tập thể thôn xóm theo những người họ hàng thuộc các vị tổ nghề cùng nhau lên kinh đô, rồi lại cùng nhau sống quây quần tại một địa điểm, một phường nhất định. Hình thức di cư này tạo nên các phường chuyên nghề và chuyên mặt hàng của đất Kinh kỳ Thăng Long 36 phố phường. Mỗi phường sản xuất và bày bán một loại hàng cố định. Đây chính là nét độc đáo của khu phố cổ Hà Nội.

Những người dân sống ở khu phố cổ Hà Nội vẫn luôn có sự liên hệ với các làng quê gốc của mình. Họ vẫn có nhà và ruộng đất ở quê, và họ vẫn trở về quê vào các dịp lễ Tết vừa để hưởng quyền lợi, vừa thực thi nghĩa vụ với làng. Họ luôn gắn bó với nhau hướng về làng quê gốc trong việc xây dựng đền thờ vọng thành hoàng làng mình. Như vậy, những người dân sống ở khu phố cổ Hà Nội tồn tại trong nhiều mối quan hệ, vừa là thành viên của thôn, phường sở tại, vừa là thành viên của làng quê gốc.

Khi lên phố Hàng Bạc sinh sống, những người dân làng Châu Khê đã dựng 2 ngôi đình. Đó là đình Trương Thị ở số nhà 50 và đình Kim Ngân ở số nhà 42. Đến cuối thế kỷ XIX, khi dân làng Châu Khê lên lập nghiệp ngày càng đông, 2 ngôi đình không đủ chỗ cho dân làng hội họp và tế lễ họ đã mua Nội Miếu ở thôn Hài Tượng (nay ở số 30 phố Hàng Giầy) để làm đền thờ vọng về quê, gọi là Châu Khê vọng sợ. Hàng năm cứ đến ngày 19 tháng Giêng, những người dân Châu Khê phố Hàng Bạc lại trở về làng Châu Khê, xã Thúc kháng, huyện Bình giang, tỉnh Hải dương để dự hội quê mình.

Dân làng Định Công thì lập đền thờ 3 ông tổ nghề Kim Hoàn là Trần Điền, Trần Điện và Trần Hoà ở đầu phố Hàng Bồ. Cứ vào ngày 12 tháng 2 âm lịch hàng năm, dân làng Định Công lại mở hội, tưởng nhứ công lao ba người thầy của nghề kim hoàn. Những người dân làng Đông Sâm do lên sinh sống ở phố Hàng Bạc ít nên họ chưa có điều kiện lập đình, miếu ở đây.

Như tên gọi của nó, phố Hàng Bạc là nơi sinh sống của những người làm nghề đổi vàng bạc. Quang cảnh cung của phố trước đây là: “Những người ngồi xếp bằng tròn sau quầy hàng của mình, trước mặt là đống tiền và một chiếc tráp nhỏ sơn son, dùng làm hòm đựng tiền của họ”. Đổi bạc là một trong nghề quan trọng ở Kẻ Chợ.

Phố Hàng Bạc còn nổi tiếng với kiến trúc đặc sắc là nhà hình ống và nhà chồng diêm. Nhà hình ống với bề dài, bề rộng có hạn, cha ông ta đã sáng tạo nên không gian ở, thờ phụng, nghỉ ngơi, sản xuất và buôn bán hết sức hợp lý và khoa học, vẫn có cả khoảng không để đưa thiên nhiên vào trong nhà. Nhà chồng diêm là loại nhà hai tầng không hoàn toàn với gác xép có cửa giả hoặc cửa cỡ nhỏ, hoặc cửa tròn mở ra phố. Loại nhà này ngoài mái ngói nghiêng xuống mặt phố còn có mái tranh vẩy thêm ra hè. Kiến trúc trang trí đơn giản, hai đầu hồi xây vài ba bậc giật cấp, có đường chỉ hay đường triện đơn giản. Bờ nóc mái hơi cong lên ở hai đầu và gờ trang trí. Kết thúc ở hai đầu góc mái là các đầu xây gạch trang trí bằng gờ chỉ…

Ngoài nhà ở, giá trị kiến trúc của phố Hàng Bạc còn thể hiện ở các di tích lịch sử như đình, đền còn lại cho đến ngày nay. Đó là các đình Dũng Hãn, Dũng Thọ, Kim Ngân và Trương Thị.

Văn bia Trùng tu đền thần giáp Dũng Hãn niên hiệu Cảnh Hưng thứ 44, cho biết đình Dũng Hãn được xây dựng gần cuối thế kỷ XVIII, trùng tu vào năm Thành Thái thứ 3 (1891). Đình có quy mô rộng rãi, chính giữa là nơi thờ Linh Lang đại vương, bên ngoài có miếu thờ thần nữ.

Đền Dũng Thọ nằm ở góc giữa phố Hàng Bạc và Mã Mây, Cửa ngôi đền rộng khoảng 2,5m, cao 2m, xây theo lối chồng diêm 8 mái, cong ở hai bên. Trên đầu mái có đắp nổi hai đầu thuỷ quái Macara chầu vào giữa. mái lợp bằng ngói ống. Trên cổng có đắp 3 chữ Hán “Dũng Thọ từ”.

Đình Trương Thị và Kim Ngân cùng thờ một vị thần là Hoàng đế Hiền Viên – ông tổ bách nghệ trong huyền thoại Trung Quốc. Hai đình này đều được xây dựng vào thế kỷ XIX.

Theo bản đồ Hà Nội thời Nguyễn, Hàng bạc nằm trên 1 trong 2 trục phố chính chạy thẳng từ Cửa Đông ra đến bờ sông Hồng. Thế kỷ XVII- XVIII, đường phố ở đây khá rộng, khoảng “10 hoặc 12 con ngựa có thể đi hàng ngang”. Phố chạy thẳng, “một nửa đường là đất để chuyên dành cho lối đi của súc vật và chở hàng hoá, nửa kia được lát gạch dùng làm lề đường cho khách bộ hành”. Cùng với Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Buồm, Lãn Ông, Hàng Bạc được xếp vào những phố to đẹp trong khu phố cổ Hà Nội, nơi có nhiều nhà ngói, nhiều cửa hiệu to rộng, đường phố sạch sẽ và được lát đá. Đến thế kỷ XIX, Thăng Long không còn giữ vai trò kinh đô của cả nước, nên tình hình đường xã cũng bị thu hẹp do không được quan tâm, sang sửa.

Là một trong những con phố cổ lâu đời nhất của Hà Nội với những công trình kiến trúc đặc sắc và nét văn hoá đặc trưng như vậy nhưng hiện nay, phố Hàng Bạc cũng đang là một trong những di sản bị xuống cấp trầm trọng, các công trình kiến trúc cổ bị lấn chiếm, người dân cũng đang cho xây dựng nhà cửa bừa bãi không theo quy hoạch, nên chất “cổ” của con phố đang mất dần. Đây là điều đáng báo động đối với các di sản của Thăng Long – Hà Nội. Vì nếu để mất đi khu phố cổ thì dù Hồ Gươm có đẹp đến đâu, Hà Nội có được phát triển khang trang hiện đại đến đâu cũng sẽ mất đi sự hấp dẫn riêng có của nó và giống như bao thành phố khác trên thế giới.

Nguồn tin: Báo Hà nội mới
QT sưu tầm